Những điều bạn cần biết về ung thư cổ tử cung

Chẩn đoán ung thư cổ tử cung theo giai đoạn

Ung thư cổ tử cung thực sự được xếp giai đoạn từ ung thư tại chỗ hay giai đoạn 0 (Carcinoma In situ) đến giai đoạn IV. Nếu giai đoạn 0 chỉ cần dựa vào kết quả mô bệnh học là đủ thì từ giai đoạn 1 trở đi cần khám lâm sàng kỹ càng và rất nhiều các xét nghiệm khác nhau để xác định chính xác giai đoạn bệnh.

Các xét nghiệm cần phải phải làm như: siêu âm nội âm đạo, chụp cắt lớp vi tính (CT Scanner) tiểu khung hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI). Các xét nghiệm này nhằm đánh giá sự xâm nhập của ung thư lấn xuống thành âm đạo và các tổ chức xung quanh tử cung, cổ tử cung và các bộ phận như: mạch máu, niệu quản, thành khung chậu, các hạch bạch huyết trong khung chậu.

Ngoài ra, còn phải chụp X-quang tim phổi, xạ hình xương tìm di căn đến các cơ quan này. Khi đã có đủ các dữ liệu như trên, ung thư cổ tử cung được xếp làm 4 giai đoạn theo hệ thống TNM: T (*Tumor - khối u, N (lympho *Nod - di căn hạch), M (*Metastase - di căn xa: gan, não, xương...). Nhưng phân loai theo FIGO (International Federation of Gynecology and Obstetrics) vẫn được nhiều trung tâm ung thư lớn trên thế giới áp dụng trên lâm sàng với những bổ sung rất lớn nhằm đáp ứng được yêu cầu của lâm sàng về mức độ chi tiết của tổn thương.

Điều trị ung thư cổ tử cung

Điều trị ung thư cổ tử cung phụ thuộc hoàn toàn vào giai đoạn bệnh. Có 3 vũ khí cơ bản được sử dụng đơn lẻ hoặc phối hợp 2 hay cả 3 đó là: phẫu thuật, xạ trị (có thể nguồn phát xạ ở ngoài cơ thể và nguồn xạ áp sát trong cơ thế) và hoá trị liệu (dùng thuốc độc tế bào để tiêu diệt tế bào ung thư).

Đối với ung thư cổ tử cung xạ trị có thể áp dụng cho mọi giai đoạn vì tế bào ung thư nhạy cảm với tia bức xạ trong khi ngoại khoa không thể giải quyết được.

Với giai đoạn sớm ung thư tại chỗ, lan, la2): nếu bệnh nhân còn trẻ, còn nhu cầu sinh con và Có điều kiện theo dõi tiến hành khoét chóp cổ tử cung, nếu diện khoét còn tế bào ung thư phải chuyển cắt tử cung toàn bộ và vét hạch chọn lọc.

Từ giai đoạn Ib đến lla: phải phẫu thuật cắt tử cung toàn bộ và 2 phần phụ, vét hạch chậu trong và chậu ngoài, nhất là hạch hồ bịt. Phẫu thuật này cần phẫu thuật viên được đào tạo kĩ càng. Nếu tổn thương rộng hơn 2 - 4cm phải tiến hành xạ áp sát trước rồi phẫu thuật như trên. Nếu hạch có di căn cần xạ tiểu khung sau mổ. Nếu không phẫu thuật CÓ thể xạ tiểu khung (nguồn xạ ngoài) sau đó xạ áp sát, khi có hạch di căn phải tiếp tục xạ tiểu khung tiếp theo. Nế.

Từ giai đoạn IIb đến Illa/b: phối hợp xạ áp sát và xạ tiểu khung, hạch động mạch chủ bụng hoặc phối hợp xạ trị và hoá trị. Vai trò của phẫu thuật ở các giai đoạn này rất hạn chế. Sau điều trị bệnh nhân phải tuân thủ chế độ theo dõi chặt chẽ: 3 tháng/lần trong năm đầu; 6 tháng/lần trong năm thứ 2 và thứ 3: 1 năm/lần trong năm thứ 4 và thứ 5. Nếu tái phát được phát hiện sớm thì điều trị vẫn cho kết quả khả quan.

Theo hệ thống FIGO, giai đoạn bệnh chỉ quan tâm đến “T” trong bảng phân giai đoạn TNM (độ sâu và diện rộng xâm lấn của khối u) mà không quan tâm đến tình trạng di căn hạch. Chỉ ở FIGO IVb là giai đoạn không xem xét đến T nữa khi đã có di căn (M). FIGO | được chia thành 4 giai đoạn nhỏ: lan, la2, Ib1, Ib2; FIGO II: Ila, Ilb; FIGO III: Illa, Illb; FIGO IV chia thành Va (chưa có di căn xa) và IVb đã có di căn xa. Sở dĩ phải chia nhỏ các giai đoạn như vậy vì ứng với môi giai đoạn nhỏ đó có một phương pháp điều trị tối ưu. 

Giai đoạn IVa và IVb: nói chung là giai đoạn rất muộn, khối ung thư xâm lấn lan rộng đến bàng quang, trực tràng, niệu quản... và di căn xa phổi, xương, gan,... Vai trò của phẫu thuật hoặc phối hợp xạ trị, hoá trị cũng chỉ là chăm sóc giảm nhẹ triệu chứng cho bệnh nhân. 

Tiên lượng sau điều trị ung thư cổ tử cung

Tiên lượng cho bệnh nhân ung thư cổ tử cung phụ thuộc giai đoạn bệnh. 100% phụ nữ được chữa khỏi khi tổn thương ở dạng vi thể (tổn thương chỉ được quan sát bằng kính hiển vi), 80 - 90% khỏi bệnh khi chẩn đoán giai đoạn I, 75% cho giai đoạn II, tỉ lệ này giảm xuống còn 30 - 40% cho giai đoạn III, 15% và thấp hơn nữa cho giai đoạn IV. Khi đã có di căn tiên lượng sống 5 năm là vô cùng thấp vì hoá chất có tác dụng tại chỗ hơn là toàn thân. Như vậy, việc sàng lọc phát hiện tổn thương “tiền” ung thư và ung thư giai đoạn sớm là biện pháp quan trọng để nâng cao tỉ lệ chữa khỏi cho bệnh nhân UT cổ tử cung. 

Phòng bệnh ung thư cổ tử cung

Cần nhấn mạnh lại rằng, ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư duy nhất có nguyên nhân trực tiếp là HPV, các yếu tố nguy cơ khác là điều kiện thuận lợi. Vì vậy, bệnh ung thư có thể phòng bệnh tích cực, chủ động, có hiệu quả cao. Sàng lọc phát hiện từ giai đoạn tiền ung thư, tiền lâm sàng và điều trị khỏi hoàn toàn. Trên cơ sở đó có thể tin rằng, tỉ lệ ung thư cổ tử cung sẽ giảm nhanh ở những nước, những vùng có chiến lược phòng bệnh, sàng lọc hợp lí và được người dân tự giác thực hiện.

Phòng lây nhiễm HPV: Vi-rút HP hay HPV cho đến nay được coi là nguyên nhân trực tiếp của UT cổ tử cung, vì vậy chống lây nhiễm HPV là trực tiếp hạ thấp tỉ lệ mắc bệnh.

An toàn tình dục 

An toàn tình dục là biện pháp quan trọng nhất, vì những người dễ bị lây nhiễm là những người có nhiều bạn tình hoặc bạn tình của họ lại có nhiều bạn tình. Bao cao su là biện pháp được khuyên dùng nhưng bao cao su cũng không phải an toàn 100% vì nhiều khi vẫn còn một phần bộ phận sinh dục không được che phủ kín và khả năng lây nhiễm vẫn còn. 

Tiêm chủng phòng ngừa HPV:Hiện nay có hai loại vắc xin chống HPV (Gardasil và Cervarix), chúng đã làm giảm nguy cơ ung thư khoảng trên 90% và các tổn thương tiền ung thư trên 60%. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, vắc-xin chỉ có hiệu quả khi chưa bị lây nhiễm HPV hoặc chưa có quan . hệ tình dục và khuyến cáo nên tiêm cho phụ nữ lứa tuổi từ 9 - 26 và thời gian được bảo vệ từ 4 – 6 năm. Sau thời gian này liệu vắc-xin còn hiệu lực không vẫn chưa có nghiên cứu nào báo cáo. Vì vậy tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo, mặc dù có tiêm vắc-xin vẫn cần được sàng lọc. Hơn nữa, giá thành của vắc-xin này còn khá cao nên chưa phải là giải pháp được nhiều nước có thu nhập thấp, trung bình và ngay cả những nước có thu nhập cao ứng dụng rộng rãi. 

Giảm thiểu các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư cổ tử cung

Không đẻ quá nhiều con. Càng đẻ nhiều con khả năng tổn thương cổ tử cung càng nhiều tạo điều kiện cho sự xâm nhập của HPV. 

Không hút thuốc lá, tránh hút thuốc lá bị động. Thuốc lá có thể tham gia vào quá trình đột biến gien và quá trình sửa chữa đột biến gien vì bản thân khói thuốc đã có chứa rất nhiều các chất gây ung thư. 1 Ăn nhiều hoa quả tươi giàu vitamin A, tiền vitamin A, vitamin B12, C, E làm giảm nguy cơ bị ung thư cổ tử cung vì chúng tăng cường hệ thống miễn dịch. 

Tích cực tập thể dục hàng ngày phù hợp sức khỏe và tuổi tác cũng là tăng cường hệ miễn dịch chung để đào thải các yếu tố gây bệnh. 

Không nên dùng thuốc tránh thai đường uống quá lâu. Có thể dùng biện pháp khác nhau thay vì chỉ dùng thuốc uống.

 


Bài viết liên quan