Khái niệm và nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung

Khái niệm ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là bệnh lí ác tính của cổ tử cung. Bệnh bắt đầu từ sự biến đổi của một số tế bào thuộc lớp biểu mô gai bao phủ toàn bộ cổ tử cung và liên tiếp phủ toàn bộ lòng âm đạo. Sự biến đổi của các tế bào này khởi nguồn. hoàn toàn lành tính ở cổ tử cung bởi sự tác động của nhiều yếu tố trong đó vi-rút HPV được coi là nguyên nhân. Sự biến đổi này bắt đầu từ bề mặt rồi ăn sâu dần xuống lớp đáy, từ lành tính chuyển thành tiền ung thư, ung thư tại chỗ rồi cuối cùng là ung thư thực sự (còn gọi là ung thư xâm lấn).

Khái niệm và nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung

Tỉ lệ mắc bệnh cao ở các nước đang phát triển nhất là các nước châu Phi, Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia... nhưng cũng không hiếm gặp ở các nước phát triển như: Anh, Mỹ... Trên toàn thế giới, ung thư cổ tử cung đứng hàng thứ 2 về tỉ lệ mắc trong những ung thư thường gặp và đứng thứ 4 nguyên nhân tử vong do ung thư ở phụ nữ. 

Theo tổ chức ghi nhận ung thư toàn cầu, năm 2008 mỗi năm thế giới có 490.000 phụ nữ mắc mới và 270.000 phụ nữ chết vì bệnh này. 80% trong số này gặp ở các nước đang phát triển. Riêng Mỹ có 11.000 ca mới mắc mỗi năm và 3.900 bệnh nhân tử vong, xếp hàng thứ 8 trong các ung thư thường gặp. Phụ nữ gốc Tây Ban Nha có tỉ lệ mắc cao hơn các cộng đồng dân cư khác. Cũng theo tổ chức này, năm 2012 Việt Nam có 15.279 phụ nữ bị ung thư cổ tử cung mọi giai đoạn.

Những nguyên nhân gây bệnh ung thư cổ tử cung

Khái niệm và nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung

Yếu tố nhiễm trùng 

Ung thư cổ tử cung là một trong số ít các bệnh ung thư Có mối quan hệ nhân quả giữa quá trình phát sinh, phát triển với quá trình nhiễm trùng, trong đó nhiễm vi-rút Human Papiloma Virus - HPV được nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới thừa nhận. Vì vậy, HPV được coi là nguyên nhân của ung thư cổ tử cung.

HPV gây tân sinh ở các lớp tế bào phủ bề mặt của cổ tử cung (Certical Intraspithelial Neoplasia - CIN) đặc biệt là vùng tiếp giáp giữa lớp biểu mô phủ mặt ngoài cổ tử cung với lớp niêm mac ống cổ tử cung. Tổn thương tâm sản này hay còn gọi là loạn sản Cổ tử cung phát triển từ nông vào sâu của lớp hiểu mô phủ Cổ tử cung. Các lớp tế bào này thuộc loại tế bào sừng nhưng không hoá sừng hay còn gọi tế bào biểu mô gai hay biểu mô vẩy. Ung thư cổ tử cung xuất phát chủ yêu từ lớp tế bào này (> 95%) chỉ có < 5% UT cổ tử cung xuất phát từ tế bào biểu mô tuyến (khi tổn thương vùng tiếp giáp với niêm mạc ống cổ tử cung mà quá trình phục hồi niêm mạc quá mức tạo nên viêm cổ tử cung lộ tuyến không được điều trị) và các loại tế bào khác. Tùy vào độ nông sâu của tổn thương tân sản này mà người ta xếp độ I, II, III và ung thư tại chỗ (chuyên môn gọi là CIN 1, CIN II, CIN III & Carcinoma Insitu). CIN I là tổn thương lành tính; CIN II, CIN III - tiền ung thư và ung thư tại chỗ.

Thời gian từ khi lây nhiễm HPV đến khi có tổn thương CIN I thường mất 2 năm. Và 90 - 95% số người bị lây nhiễm tự đào thải sạch hoặc tiêu diệt hoàn toàn HPV nhờ hệ thống miễn dịch và sự thay đổi pH âm đạo. Nhưng lại phải nhớ là trong đời một phụ nữ ít nhất cũng bị nhiễm HPV một lần. Vì vậy con số 5 - 10% là Vô cùng đáng sợ! 

Thời gian từ khi có tổn thương mức độ nhẹ (CIN I) tiến triển đến ung thư cổ tử cung xâm lấn kéo dài khoảng từ đến 15 năm, trong đó từ ung thư tại chỗ (Carcinoma Insitu) đến ung thư xâm lấn kéo dài khoảng 2 năm. 70% CINT sẽ tự khỏi sau 12 tháng và 90% sẽ tự khỏi sau 2 năm; 50% CIN II tự khỏi trong vòng 2 năm. Chỉ có 11% CINT và 22% CIN II diễn tiến đến ung thư tại chỗ (Carcinoma Insitu). Và từ 11% ung thư tại chỗ của CINT chỉ có 1% và 5% của CIN II và 15% của CIN III dẫn tới ung thư cổ tử cung thật sự (ung thư cổ tử cung xâm lấn). Mỗi năm tại Mỹ có khoảng 250.000 đến 1.000.000 phụ nữ được phát hiện CIN với các mức độ khác nhau, ở nhiều lứa tuổi nhưng chủ yếu là lứa tuổi 25 - 35 tuổi. V Như vậy, sàng lọc ung thư cổ tử cung là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất trong việc sàng lọc mọi bệnh ung thư nói chung. Vì nếu phát hiện được tổn thương từ CIN II trở lên bệnh nhân sẽ được điều trị và điều trị khỏi hoàn toàn, đặc biệt UT tại chỗ với các phương pháp rất đơn giản và không tốn kém.

Khái niệm và nguyên nhân dẫn đến ung thư cổ tử cung 

Những yếu tố nguy cơ khác 

  • Hút thuốc lá: Những phụ nữ bị nhiễm HPV mà hút thuốc lá kể cả hút thụ động có tỉ lệ mắc tân sản (CIN) và ung thư cổ tử cung cao gấp 2 - 3 lần những phụ nữ không hút thuốc. V Chửa đẻ: Những phụ nữ nhiễm HPV chửa đẻ 7 - 8 lần có tỉ lệ mắc ung thư cổ tử cung cao gấp 7 - 8 lần so với phụ nữ không chứa đẻ và cao gấp 2 - 3 lần so với những phụ nữ chỉ đẻ 1 - 2 lần. 
  • Thuốc tránh thai: Những phụ nữ nhiễm HPV tránh thai đường uống 5 - 9 năm có tỉ lệ mắc cao gấp 3 lần so với phụ nữ không dùng. Những phụ nữ uống thuốc tránh thai trên 10 năm có tỉ lệ mắc cao gấp 4 lần so với phụ nữ không dùng thuốc. Sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài làm tăng nguy cơ mắc UT cổ tử cung 
  • Quan hệ tình dục: Những phụ nữ có quan hệ tình dục sớm trước 17 tuổi và nhất là có con trước 17 tuổi, phụ nữ có nhiều bạn tình hoặc bạn tình của họ có nhiều bạn tình thì khả năng nhiễm và tái nhiễm HPV cao hơn nhiều lần so với người khác và dẫn đến tỉ lệ ung thư cổ tử cung cao hơn.

 

 


Bài viết liên quan