Các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư vú

Có 2 yếu tố nguy cơ không còn bàn luận nào khác đó là giới và tuổi. Không đến 1% ung thư vú gặp ở nam giới. Tuổi càng cao khả năng mắc ung thư vú càng cao. L Cũng như phần lớn các loại ung thư khác, người ta vẫn chưa tìm được nguyên nhân trực tiếp gây ung thư vú. Nhiều nghiên cứu ở nhiều quốc gia, nhiều vùng lãnh thổ khác nhau, người ta chỉ tìm thấy mối liên quan chặt chẽ giữa một số yếu tố từ môi trường xung quanh cũng như nội tại cơ thể với ung thư vú gọi là yếu tố nguy cơ ngoại sinh và yếu tố nguy cơ nội sinh. 

Các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư vú

Các yếu tố nguy cơ ngoại sinh 

80% ung thư nói chung cũng như ung thư vú liên quan trực tiếp với các yếu tố ngoại sinh, đặc biệt là môi trường sống. Tỉ lệ phụ nữ mắc ung thư vú cao ở các nước phát triển là một minh chứng. Có thể do lối sống hiện đại như: hút thuốc lá, uống rượu bia, chế độ ăn uống nhiều năng lượng, ít rau xanh, hoa quả tươi và các chất xơ. Các thuốc tránh thai, nạo phá thai, vấn đề sinh đẻ, nuôi con bằng sữa mẹ, sống và làm việc trong môi trường ô nhiễm công nghiệp, thậm chí có nghiên cứu cho biết, ô nhiễm ánh sáng (light pollution) cũng làm tăng tỉ lệ ung thư vú.

Mối liên quan giữa hút thuốc lá cả chủ động lẫn thụ động với ung thư vú ở phụ nữ đã được nghiên cứu trong nhiều thập kỷ nay tại nhiều các trung tâm lớn trên toàn thế giới (nhất là ở Mỹ, Anh, Canada...). Các kết quả thu được chỉ ở mức thống nhất rất hạn chế. Tuổi bắt đầu hút thuốc càng sớm, thời gian hút càng dài, hút thuốc trong thời kỳ mang thai có môi tương quan tương đối với ung thư vú, nguy cơ tăng lên đến 35 - 50%. Có nghiên cứu cho thấy, hút thuốc thụ động lại có mối liên quan chặt chẽ hơn hút thuốc chủ động, có nghiên cứu lại thấy ngược lại. Tuy rằng 2/3 số bệnh nhân tử vong vì ung thư có liên quan đến hút thuốc lá nhưng vai trò của hút thuộc với ung thư vú lại chưa được khẳng định chắc chắn. Có thê vai trò của hút thuốc lá chỉ phát tác khi phối hợp với các yếu tố nguy cơ khác như rượu, hay trên cơ địa có bộ gien dê tổn thương... Lạm dụng rượu bia với ung thư vú: Người ta nghĩ rượu chỉ liên quan đến ung thư gan, ung thư tuy. Một nghiên cứu trên 1,2 triệu phụ nữ trung niên ở Anh Quốc đã đưa ra kết luận: nếu mỗi ngày uống 2 đơn vị cồn (1 đơn vị tương đương 10ml rượu mạnh hay 330ml bia) thì khả năng mắc ung thư tăng lên 8% so với phụ nữ chỉ uống mỗi ngày 1 đơn vị. Nếu uống hơn 2 đơn vị mỗi ngày càng Lạm dụng rượu bia làm tăng khả năng mắc ung khả năng này tăng thêm 1,1%. 

Các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư vú

Cơ chế liên quan rượu bia với ung thư vú người ta cho rằng, rượu bia kích thích tiết nội tiết tố nữ estrogen& androgen) mà 65 - 70% ung thư vú phát triển phụ thuộc nội tiết này và làm tăng khả năng di căn ung thư vú. Rượu bia kích hoạt các chất gây ung thư làm tổn thương nhu mô tuyến vú. Các chất chuyển hoá của rượu bia như Acetethanol gây tổn thương DNA của tế bào tuyến vú.

Các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư vú

Thuốc tránh thai đường uống: Dùng thuốc tránh thai đường uống kéo dài, thường xuyên trên 5 năm làm tăng khả năng mắc ung thư vú lên 1.5 lần, trên 10 năm tăng lên 2 lần so với người không dùng. Nhưng nếu dùng không dùng sau 5 năm khả năng mắc bệnh trở lại như người bình thường. Nạo phá thai dường như không làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú. Phụ nữ dùng nội tiết hỗ trợ ở tuổi tiền mãn kinh trên 5 năm (Estrogene + Prolactine) cũng có nguy cơ cao hơn. | Chế độ dinh dưỡng và ung thư vú: Có thể chế độ ăn uống dẫn đến béo phì làm tăng nguy cơ ung thư vú. Phân lớn bệnh nhân ung thư vú có chỉ số khối cơ thể (MBI) lớn hơn 23. Chế độ ăn nhiều chất béo, thiếu rau xanh, hoa quả tươi, thiếu các vi chất mà chỉ có ở hạt ngũ cốc nguyên vẹn, thiếu i-ốt... Chỉ số cholesteron máu cao, bệnh tiểu đường cũng là yếu tố nguy cơ với ung thư vú. Lối sống ít hoạt động thể chất, làm việc trong môi trường có nhiễm phóng xạ hoặc đã được điều trị bằng phóng xạ vào vùng ngực cũng làm tăng khả năng mắc bệnh.

Những yếu tố nội sinh 

Phụ nữ có kinh nguyệt sớm (trước 13 tuổi với phụ nữ Việt Nam, trước 12 tuổi với phụ nữ Mỹ) và tắt kinh muộn (sau 50 tuổi với phụ nữ Việt Nam và sau 55 tuổi với phụ nữ Mỹ) có khả năng mắc ung thư vú cao hơn người khác. Cũng như vậy, với phụ nữ có con đầu lòng sau 30 tuổi và không sinh con lần nào hoặc không cho con bú có tỉ lệ ung thư vú cao hơn. Ung thư vú là loại ung thư có mối liên quan với di truyền khá cao. Có đến 5 - 10% số bệnh nhân ung thư vú liên quan đến gien di truyền từ thế hệ này sang thế hệ sau. Từ thế hệ đầu tiên (thế hệ O) đến thế hệ thứ nhất rồi thế hệ thứ hai bị ung thư vú ở người trước 80 tuổi, ở Mỹ người ta tính được lần lượt là 7.8%, 13.3% và 21.1%. Và tử vong lần lượt là 2,3%, 4,2% và 7,6%. Những người Có mẹ bị ung thư vú thì khả năng bị ung thư vú cao gấp đôi người thường ở lứa tuổi 40 - 50.

Các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư vú

Hội chứng di truyền ung thư vú • buồng trứng (Hereditary Breast - Ovarian cancer syndrome) trong đó chủ yếu do đột biến gien BRCA1 và BRCA2. Đột biến này di truyền cho thế hệ sau gần như 100%, đặc biệt khi mẹ bị cả 2 ung thư. Vì vậy, có người khuyên nên cắt cả 2 tuyến vú dự phòng trước khi bị ung thư nếu mẹ bị 2 ung thư mà xét nghiệm - Có đột biến gien BRCA1 và BRCA2. Ngoài ra, đột biến các gien P53, PTEN (Cowden syndrome), STK( Peutz Jeghers syndrome)... cũng đang được nghiên cứu.

Các thụ thể nội tiết ER (Estrogene Receptor), PR (Progesterone Receptor) ở tế bào ung thư vú được nghiên cứu như là một yếu tố nguy cơ đã mở ra một kỷ nguyên mới trong điều trị ung thư vú, điều trị nội tiết. Và bộc lộ quá mức yếu tố phát triển biểu bì (Her-2/neu) cũng đã có những ứng dụng quan trọng trong điều trị ung thư vú bằng kháng thể đơn dòng (điều trị trúng đích).

 


Bài viết liên quan